Ngày/Day: 06Month/Tháng 12Năm/Year: 2019

  • Vietnamese-VN
  • English (United Kingdom)

Trung tâm Quang điện tử tiếp nhận thiết bị và công nghệ chế tạo thấu kính quang học từ Hàn Quốc

Trong khuôn khổ Dự án tăng cường trang thiết bị “Phòng thí nghiệm Quang cơ điện tử”, trong 3 ngày từ 18-20/11/2019, Trung tâm Quang điện tử đã tiếp nhận hệ thiết bị gia công thấu kính quang học của Công ty SIDAI- Hàn Quốc.

Công ty SIDAI được thành lập vào năm 1965, nổi tiếng trên thế giới với nhiều loại thiết bị gia công quang học chính xác, năng suất cao cho các công đoạn (tạo phôi, mài thô, mài mịn và đánh bóng, định tâm thấu kính). Các thiết bị của  SIDAI đã được cung cấp cho các công ty sản xuất ống kính quang học, các viện nghiên cứu và các phòng thí nghiệm tại Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Ấn Độ, Trung Quốc... Các thiết bị của SIDAI được sử dụng rộng rãi trong sản xuất ống kính quang học, phin lọc cho camera kỹ thuật số, camera điện thoại, camera ô tô, và các ứng dụng khác nhau trong an ninh quốc phòng.

Quá trình lắp đặt thiết bị gia công quang học.

Ông Shangho Kang, Giám đốc sản xuất của SIDAI, đã trực tiếp chỉ đạo quá trình lắp đặt, hiệu chỉnh các thông số của các thiết bị và đào tạo kĩ thuật vận hành thiết bị. Trung tâm Quang điện tử đã cử 05 cán bộ kỹ thuật tham gia khóa đào tạo. Khóa đào tạo đã trang bị các kiến thức cơ bản, từ khâu tạo phôi ban đầu, mài mịn và mài bóng quang học, phương pháp kiểm tra, đo đạc các thông số kỹ thuật trong từng khâu, bảo dưỡng, bảo trì thiết bị trong quá trình sử dụng. Các học viên đã tích cực học tập và trao đổi với chuyên gia của hãng.

Đào tạo và thực hành trên thiết bị

Sản phẩm gia công thử nghiệm

Hai bên đã thống nhất kết luận: Các thiết bị sau khi lắp đặt và chạy thử đã đạt các chỉ tiêu kỹ thuật theo hợp đồng; Các cán bộ tham gia đào tạo đã nắm được nguyên lý và vận hành tốt các thiết bị; SIDAI cam kết hỗ trợ thường xuyên, nhanh chóng và lâu dài cho Trung tâm Quang điện tử trong vận hành các thiết bị.

Trung tâm Quang điện tử trao đổi với đại diện hãng SIDAI

Các thiết bị gia công quang học đã được đầu tư là tiền đề quan trọng giúp Trung tâm Quang điện tử giải quyết các nhiệm vụ trong lĩnh vực gia công các linh kiện quang học đặc biệt: gương kim loại, gia công thấu kính tinh thể dùng cho thiết bị ảnh nhiệt, gương laser...; Thúc đẩy ứng dụng quang điện tử cho an ninh quốc phòng, công nghiệp, công nghệ cao; Đẩy mạnh hợp tác với các trung tâm nghiên cứu trong và ngoài nước; Cung cấp dịch vụ khoa học kĩ thuật; Đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ liên quan đến lĩnh vực gia công linh kiện quang học đặc biệt.

 

Nguồn: Trung tâm Quang điện tử

 

Chuyện bây giờ mới kể - chế tạo máy tính ‘Bác Tô’

Nhân dịp kỉ niệm 35 năm thành lập Viện Ứng dụng Công nghệ (1984-2019), chúng tôi xin chia sẻ với các bạn về những công việc, những kết quả mà các thế hệ đầu tiên của Viện Công nghệ Quốc gia đã đạt được. Câu chuyện nhằm mục đích tri ân các anh /các chị thế hệ đó, với hy vọng chúng ta sẽ rút ra được đôi điều bổ ích để chung tay phát triển Viện Ứng dụng Công nghệ ngày càng lớn mạnh.

Tôi vào Viện Công nghệ

Tôi được nhận vào Phòng Vi tính, Viện Công nghệ quốc gia (nay là Viện Ứng dụng Công nghệ) vào khoảng đầu năm 1986. Lúc về, phòng chỉ mới có 2 nhân viên là Hoàng Đăng Hải và Hoàng Ngọc Hùng. Sau tôi, đến Nguyễn Ngọc Lân, Đinh Phú Quốc rồi mới đến Hà Thế Minh với “chiếc ghế” trưởng phòng đã được “để dành” từ trước. Tiếp đến là Tạ Nhữ Văn Lâm, một anh tên Tân (tôi không nhớ họ tên đầy đủ) rồi  Nguyễn Trần Tuấn Anh và Phạm Thiếu Nga. Nguyễn Trung Chính là cái tên cuối cùng.

Nhóm tham gia chế tạo máy ‘Bác Tô’ trong một lần ghé thăm anh Nguyễn Chí Công. (Từ trái sang phải: Phạm Thiếu Nga, Hoàng Đăng Hải, Nguyễn Chí Công và Trần Hải Âu - tác giả bài viết)

Ban đầu, Viện còn chưa có trụ sở, phòng vi tính được bố trí nhờ tạm mấy phòng nhỏ của Khoa Vật lý trường ĐHBK tại tầng 3 nhà C9 trường ĐHBK Hà Nội. Phòng khi đó chỉ mới được trang bị 01 chiếc máy tính AT 286 (512 KB Ram, ổ mềm 5”1/4, ổ cứng 20MB)  và một máy tính 8 bit Commodore (do anh Đặng Xuân Cự mang từ Đức về). Cái máy Commodore này hồi đó cứ chạy một lúc là treo cứng. Ban đầu công việc của phòng chưa có gì nhiều: đọc sách, làm xê-mi-ne và tập trung khắc phục lỗi của cái máy tính Commodore.

Hà Thế Minh, Trưởng nhóm nghiên cứu chế tạo máy tính Bác Tô

Đề án ‘Máy tính trường học’ giai đoạn 1: chế tạo thành công 10 chiếc máy mẫu

Do đã quá lâu nên khó có thể nhớ chính xác thời điểm bắt tay vào làm máy tính ‘Bác Tô’, có lẽ vào khoảng nửa cuối năm 1986 trong đề án mang tên ‘Máy tính trường học’. Khi đó phòng Vi tính đã chuyển từ tầng 3 nhà C9 vào nhà E1 Bách khoa. Máy ‘Bác Tô’ được dự kiến là một máy tính 8 bit chạy Hệ điều hành CP/M.  Trong giai đoạn 1, nhiệm vụ là nghiên cứu, thiết kế và chế tạo ‘từ A đến Z’ 10 chiếc máy tính mẫu 8 bit. Nghĩa là bao gồm tất cả các khâu để tạo thành một máy tính 8 bit hoàn chỉnh (thiết kế sơ đồ nguyên lý, viết BIOS, đưa HĐH vào, thiết kế mạch in, hàn chíp, lắp ráp đóng vỏ …) ngoại trừ vật tư và linh kiện phải mua từ nước ngoài. Việc mua sắm vật tư và linh kiện được các Việt kiều Đức giúp vì vào thời kỳ đó Việt Nam vẫn bị cấm vận.

Hà Thế Minh và Hoàng Đăng Hải  đã chọn CPU cho ‘Bác Tô’ là HD64180 của hãng HITACHI (thực ra là CPU Z80 có tích hợp thêm MMU và on-chip peripherals). Công việc được phân công cho nhóm phần cứng của phòng như sau:

o Hoàng Đăng Hải gánh phần nặng nhất bao gồm khối xử lý trung tâm, ROM, Dynamic RAM, khối điều khiển màn hình. Anh Hải cũng là người đảm nhiệm chính cho phần BIOS và phần chương trình ROM Monitor

o Trưởng phòng Hà Thế Minh đảm nhiệm phần điều khiển ngoại vi đĩa mềm. Sau khi hoàn thiện máy mẫu (máy được chế tạo theo phương pháp quấn dây (wraping)), Hà Thế Minh là người vẽ toàn bộ mạch in cho ‘Bác Tô’ (version 1) với sự trợ giúp của Nguyễn Trần Tuấn Anh.

o Hoàng Ngọc Hùng đảm nhiệm phần điều khiển ngoại vi cassette, nhưng về cuối thì ngoại vi này bị bỏ, không đưa vào ‘Bác Tô’.

o Tôi (Trần Hải Âu) được giao thiết kế phần điều khiển bàn phím và máy in.

o Tạ Nhữ Văn Lâm nhận phần RAM disk.

Để phục vụ việc nghiên cứu thiết kế và chế tạo ‘Bác Tô’, phòng được trang bị một số trang thiết bị sau:

o Hệ thống Colorcam để phục vụ việc vẽ thiết kế và khoan khắc mạch in.

o 01 Hệ phát triển Z80 kèm EPROMER.

o Ngoài các thiết bị hỗ trợ kể trên, phòng còn được cấp 10 chiếc máy tính Commodore nguyên chiếc. Những chiếc máy này sẽ được tháo hết ruột để lắp các bo mạch của các máy ‘Bác Tô’ được chế tạo.

Phương án bàn phím đầu tiên cho ‘Bác Tô’ mà tôi được giao là sử dụng 01 bàn phím rời của máy tính XT. Việc thiết kế giao diện cho bàn phím tương đối đơn giản vì bàn phím XT là bàn phím thông minh. Chỉ cần tạo một giao diện để đón tín hiệu serial rồi chuyển mã scan code thành mã ASCII tương ứng. Tôi nhanh chóng hoàn thành công việc này để ‘nộp bài’. Tuy nhiên do các máy Commodore nhập về cũng có sẵn bàn phím. Để tiết kiệm chi phí, cấp trên quyết định bỏ phương án dùng bàn phím rời của máy tính XT mà sử dụng luôn bàn phím sẵn có của máy Commodore. Vậy là tôi lại phải bắt tay vào việc lại từ đầu. Bàn phím của máy Commodore là một bàn phím thụ động. Do thiếu kinh nghiệm, tôi không biết cần phải đưa thêm phần mạch chống phím rung để chống nhiễu. Phần BIOS cho bàn phím do đó phải có thêm đoạn chống phím rung. Loay hoay đến cả mấy tuần tôi mới hoàn thành xong công việc được giao.

Để gõ các ký tự tiếng Việt, tôi cũng sử dụng các phím số để tạo ký tự có dấu. Cách gõ tiếng Việt ngày đó hơi tương đồng kiểu gõ VNI sau này. Có điều bảng mã ASCII cho ‘Bác Tô’ hồi đó là bảng mã cực tùy tiện (do tôi tự qui định), không trùng với bất kỳ bảng mã tiếng Việt được chuẩn hóa sau này. Phần giao diện cho máy in thì tương đối đơn giản. Đó là một máy in kim dùng giao diện theo chuẩn Centronix. Tôi nhanh chóng hoàn thành kể cả việc ‘bắt’ máy in in các ký tự tiếng Việt.

Đến bây giờ, khó ai có thể nhớ chiếc máy ‘mẫu’ được hoàn thành trong thời gian bao lâu (có lẽ khoảng 1 năm). Chỉ còn nhớ đó là chiếc máy dùng công nghệ quấn dây (wraping) chạy HĐH CPM có cấu hình như sau: Ram 256kB, màn hình đơn sắc (monochrome), 01 FDD 3”1/2, có thể chạy Ram Disk (64KB). Sau khi máy mẫu hoạt động ổn định, trưởng phòng Hà Thế Minh và Tuấn Anh bắt đầu miệt mài bên hệ Colorcam để thiết kế mạch in.

10 bo mạch của ‘Bác Tô’ được làm ở Vietronics Tân Bình (TP Hồ Chí Minh). Sau khi có mạch in,  cả phòng nhanh chóng thực hiện việc chế tạo 10 chiếc ‘Bác Tô’ đầu tiên có cấu hình đúng như chiếc máy mẫu. Sau khi các máy hoàn thành, có 3 chiếc được đưa sang đặt ở Cung văn hóa thiếu nhi cho trẻ em dùng thử (chị Thiếu Nga phụ trách phần đào tạo). Nga có viết vài cái game đơn giản cho trẻ em chơi. 3 chiếc nữa được biến thành các hệ phát triển Z80 cho một Hợp đồng kinh tế với một đơn vị bên Bưu điện.

‘Bác Tô’ giai đoạn 2 và vụ cháy oan nghiệt

Đến giai đoạn 2, phòng Vi tính tiếp tục nhận nhiệm vụ chế tạo 100 chiếc ‘Bác Tô’. Lần này, cấu hình có sự thay đổi là nâng cấp từ màn hình đơn sắc thành màn hình màu (vẫn do Hoàng Đăng Hải thực hiện) và bàn phím thì sử dụng bàn phím rời XT. Tôi được giao nhiệm vụ thiết kế mạch in cho ‘Bác Tô’ version 2 trong thời hạn 1 tháng. Nhưng thật đen đủi, mạch in mới vừa được thiết kế xong được vài ngày, đang chuẩn bị in ra phim để gửi vào Tân Bình thì xảy ra vụ cháy. Toàn bộ công sức của phòng Vi tính trong mấy năm trời đã bị ‘bà hỏa’ cướp đi sạch.

Những chiếc máy ‘Bác Tô’ mẫu ngày đó khi ra đời (1988) có thể không mạnh bằng các máy PC XT, song so với các máy 8 bit thì cấu hình được đánh giá vào loại mạnh. Điều căn bản là đó chính là chiếc máy tính ‘Made in Vietnam’ do Viện Nghiên cứu Công nghệ Quốc gia nghiên cứu và sản xuất, đưa nước ta vượt rất nhiều các nước châu Á ở thời điểm đó. Tiếc cho một đề án tốt, rất có tương lai. Tiếc cho một đội ngũ kỹ thuật giàu đam mê, nhiệt huyết. Tiếc một cơ hội để phát triển cho nền khoa học công nghệ Việt Nam khi đó.

 

Nguồn: Trung tâm Quang điện tử

 

 

 

Cập nhật thông tin về Quản lý nông sản và an toàn thực phẩm thông qua hoạt động hợp tác quốc tế

Thực hiện Quyết định số 276/QĐ-VƯDCN ngày 04/11/2019 của Viện Ứng dụng Công nghệ, Trung tâm Sinh học Thực nghiệm đã cử cán bộ tham dự Lớp nghiên cứu và hội thảo về “Quản lý nông sản và an toàn thực phẩm cho cán bộ các nước Asean” do Bộ thương mại Trung Quốc tổ chức từ ngày 8/11/2019 đến ngày 28/11/2019.

Cán bộ các nước Asean tham gia khóa đào tạo tại Bắc Kinh

Trong quá trình tập huấn, đoàn cán bộ các nước Asean đã được tìm hiểu về nhu cầu và tình hình sản xuất, chế biến nông sản tại Trung Quốc qua các chuyến thăm quan đến các nhà máy, khu sản xuất công nghệ cao tại bốn thành phố lớn của Trung Quốc là Bắc Kinh, Quảng Châu, Thượng Hải và Hàng Châu. Tại đây các thành viên tham gia khóa học còn được các chuyên gia Trung Quốc cung cấp những thông tin về bộ tiêu chuẩn quản lý nông sản và thực phẩm cũng như luật xuất nhập khẩu nông sản tại quốc gia này.

Tham quan quan khu sản xuất  nông nghiệp công nghệ cao tại thành phố Thượng Hải

Bên cạnh đó, thông qua các buổi giới thiệu, trao đổi của các thành viên tham gia khóa đào tạo, các học viên còn được cung cấp thêm thông tin về tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu nông sản của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Khóa đào tạo đã giúp cho cán bộ Trung tâm được cập nhật thông tin và kiến thức về xu hướng sản xuất, chế biến nông sản, và một số các luật định trong xuất nhập khẩu nông sản tại các quốc gia trong khu vực.

Hội thảo giới thiệu về tình hình sản xuất và xuất nhập khẩu nông sản tại các quốc gia Asean

 

Nguồn: Trung tâm Sinh học Thực nghiệm