<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>CÔNG NGHỆ SINH HỌC Archives - Viện Đổi mới sáng tạo Quốc gia</title>
	<atom:link href="https://nacentech.vn/category/tin-cong-nghe/cong-nghe-sinh-hoc/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://nacentech.vn</link>
	<description>NACENTECH</description>
	<lastBuildDate>Wed, 27 Nov 2024 03:41:46 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.2.11</generator>

<image>
	<url>https://nacentech.vn/wp-content/uploads/2026/03/NACENTECH_Logo_1-80x80.png</url>
	<title>CÔNG NGHỆ SINH HỌC Archives - Viện Đổi mới sáng tạo Quốc gia</title>
	<link>https://nacentech.vn</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Tối ưu hóa điều kiện tách chiết saponin steroid từ lá cây Costus pictus bằng phương pháp đáp ứng bề mặt</title>
		<link>https://nacentech.vn/toi-uu-hoa-dieu-kien-tach-chiet-saponin-steroid-tu-la-cay-costus-pictus-bang-phuong-phap-dap-ung-be-mat/</link>
					<comments>https://nacentech.vn/toi-uu-hoa-dieu-kien-tach-chiet-saponin-steroid-tu-la-cay-costus-pictus-bang-phuong-phap-dap-ung-be-mat/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 27 Nov 2024 03:41:46 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[CÔNG NGHỆ SINH HỌC]]></category>
		<category><![CDATA[TIN CÔNG NGHỆ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://nacentech.vn/?p=7184</guid>

					<description><![CDATA[<p>Costus pictus là cây thuộc họ Costaceae có nguồn gốc từ Nam Mỹ, sau đó phát triển mạnh tại châu Á (Ấn Độ, Trung Quốc, Malaysia…) như loài cây cảnh. C. pictus đã được sử dụng trong nhiều bài thuốc cổ truyền của Ấn Độ và một số nước Đông Nam Á để điều trị</p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="https://nacentech.vn/toi-uu-hoa-dieu-kien-tach-chiet-saponin-steroid-tu-la-cay-costus-pictus-bang-phuong-phap-dap-ung-be-mat/">Tối ưu hóa điều kiện tách chiết saponin steroid từ lá cây Costus pictus bằng phương pháp đáp ứng bề mặt</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="https://nacentech.vn">Viện Đổi mới sáng tạo Quốc gia</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"><em>Costus pictus </em>là cây thuộc họ <em>Costaceae </em>có nguồn gốc từ Nam Mỹ, sau đó phát triển mạnh tại châu Á (Ấn Độ, Trung Quốc, Malaysia…) như loài cây cảnh. <em>C. pictus </em>đã được sử dụng trong nhiều bài thuốc cổ truyền của Ấn Độ và một số nước Đông Nam Á để điều trị đái tháo đường, viêm phổi, thấp khớp, tiêu chảy, đau đầu, nôn mửa [1]. Cây <em>C. pictus </em>có chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học như flavonoid, polyphenol, saponins, terpenoid, tannin, tinh dầu và các nguyên tố vi lượng (K, Ca, Cr, Mn, Cu và Zn) [2-4]. <em>C. pictus </em>có nhiều tác dụng y học như kháng nấm, kháng vi khuẩn, virus [5, 6], kháng ôxy hóa [7], chống viêm [8], làm thuốc chống ung thư [9], trị bệnh tiểu đường [10, 11].</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Saponin là một nhóm hợp chất đa dạng được đặc trưng bởi cấu trúc của chúng có chứa aglycone steroid hoặc triterpenoid và được gắn với một hoặc nhiều chuỗi đường [12], đặc trưng bởi tính chất hoạt động bề mặt vì có thể hòa tan trong nước tạo thành dung dịch tạo bọt. Saponin thường được nhóm thành hai loại chính: saponin steroid tồn tại chủ yếu trong cây một lá mầm và saponin triterpenoid có trong cây hai lá mầm [13]. Theo một số nghiên cứu cho thấy, chi <em>Costus </em>sp. được coi là một nguồn nguyên liệu mới có tiềm năng khai thác saponin, đặc biệt là saponin steroid [4, 10].</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Trong quá trình tách chiết hàm lượng saponin steroid bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau như nồng độ dung môi, tỷ lệ nguyên liệu/dung môi, thời gian chiết cũng như sự tương tác giữa các yếu tố với nhau. Kết quả nghiên cứu do Chi nhánh Viện Ứng dụng Công nghệ tại TP. HCM thực hiện cho thấy, điều kiện tối ưu cho quá trình tách chiết saponin steroid từ lá cây <em>C. pictus </em>với nồng độ ethanol 79%, tỷ lệ nguyên liệu/dung môi 1/31 g/mL và thời gian tách chiết là 60 giờ với hàm lượng saponin steroid đạt cao nhất là 7,62%.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Chi nhánh Viện Ứng dụng Công nghệ tại TP. HCM sẵn sàng chuyển giao quy trình công nghệ tách chiết saponin steroid từ lá cây <em>Costus pictus</em> cho mục đích làm nguyên liệu sản xuất thuốc điều trị bệnh tiểu đường trên người. Thông tin vui lòng liên hệ 366A Trường Chinh, Phường 13, Quận Tân Bình, TP. HCM.</span></p>
<p style="text-align: right;"><em><span style="color: #000000;"><strong> Nguồn: Chi nhánh Viện Ứng dụng công nghệ tại TP. HCM</strong></span></em></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"><strong>TÀI LIỆU THAM KHẢO</strong></span></p>
<ul>
<li style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Selvakumarasamy, B. Rengaraju, S.A. Arumugam, et al. (2021), “<em>Costus pictus</em>-transition from a medicinal plant to functional food: A review”, <em>Futur. Foods</em>, <strong>4(7)</strong>, DOI: 10.1016/j.fufo.2021.100068.</span></li>
<li style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Aruna, R. Nandhini, V. Karthikeyan, et al. (2014), “Insulin plant (<em>Costus</em> <em>pictus</em>) leaves: Pharmacognostical standardization and phytochemical evaluation”, <em>Am. J. Pharm Heal. Res.</em>, <strong>2(8)</strong>, pp.106-119.</span></li>
<li style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">M.R. Devi (2019), “A comprehensive review on <em>Costus pictus </em>D. Don”, <em>International Journal of Pharmaceutical Sciences and Research</em>, <strong>10(7)</strong>, pp.3187- 3195, DOI: 10.13040/IJPSR.0975-8232.10(7).3187-95.</span></li>
<li style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Manimozhi (2019), “Phytochemical investigation of the medicinal plant <em>Costus pictus </em>D. Don”, <em>J. Emerg. Technol. Innov. Res.</em>, <strong>6(6)</strong>, pp.49-59.</span></li>
<li style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Guclu-Ustundag, G. Mazza (2007), “Saponins: Properties, applications and processing”, <em>Crit. Rev. Food Sci. Nutr.</em>, <strong>47(30)</strong>, pp.231-258, DOI: 10.1080/10408390600698197.</span></li>
<li style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Raj, R. Kalaivani (2016), “Comparative <em>invitro </em>evaluation of anthelmintic property of leaves and rhizome of <em>Costus pictus </em>D. Don against albendazole”, <em>Natl. J. Physiol. Pharm. Pharmacol.</em>, <strong>6(5)</strong>, pp.438-441, DOI: 10.5455/njppp.2016.6.0205423032016.</span></li>
<li style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Majumdar, P. Parihar (2012), “Antibacterial, anti-oxidant and antiglycation potential of <em>Costus pictus </em>from southern region, India”, <em>Asian J. Plant Sci. Res.</em>, <strong>2(2)</strong>, pp.95-101.</span></li>
<li style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Ashwini, Z. Bobby, M. Joseph, et al. (2015), “Insulin plant (<em>Costus</em><em> pictus</em>) extract improves insulin sensitivity and ameliorates atherogenic dyslipidaemia in fructose induced insulin resistant rats: Molecular mechanism”, <em>J.</em><em> Funct. Foods</em>, <strong>17</strong>, pp.749-760, DOI: 10.1016/j.jff.2015.06.024.</span></li>
<li style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Prejeena, S.N. Suresh, V. Varsha (2017), “Phytochemical screening, antioxidant analysis and antiproliferative effect of <em>Costus pictus </em>D. Don leaf extracts”, <em>International Journal of Recent Advances in Multidisciplinary Research</em>, <strong>4(3)</strong>, pp.2373-2378.</span></li>
<li style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">V. Srinivasan, K.K. Vijayan, P. Sharanappa, et al. (2016), “Identification of chemical compounds in the essential oil from <em>Costus pictus </em>D. Don plant parts antimicrobial studies isolation and quantification of diosgenin from its root”, <em>J.</em><em> Chem. Pharm. Res.</em>, <strong>8(7)</strong>, pp.594-604.</span></li>
<li style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">A. Jayasri, S. Gunasekaran, A. Radha, et al. (2008), “Anti-diabetic effect of <em>Costus pictus </em>leaves in normal and streptozotocin-induced diabetic rats”, <em>International Journal of Diabetes and Metabolism</em>, <strong>16(3)</strong>, pp.117-122.</span></li>
<li style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Navarro del Hierro, G. Reglero, D. Martin (2020), “Chemical characterization and bioaccessibility of bioactive compounds from saponin-rich extracts and their acid-hydrolysates obtained from fenugreek and quinoa”, <em>Foods</em>, <strong>9(9)</strong>, DOI: 10.3390/foods9091159.</span></li>
<li style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Abdelrahman, S. Jogaiah (2020), <em>Bioactive</em> <em>Molecules</em> <em>in</em> <em>Plant </em><em>Defense</em>, Springer International Publishing, DOI: 10.1007/978-3-030-61149-1.</span></li>
</ul>
<p>The post <a rel="nofollow" href="https://nacentech.vn/toi-uu-hoa-dieu-kien-tach-chiet-saponin-steroid-tu-la-cay-costus-pictus-bang-phuong-phap-dap-ung-be-mat/">Tối ưu hóa điều kiện tách chiết saponin steroid từ lá cây Costus pictus bằng phương pháp đáp ứng bề mặt</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="https://nacentech.vn">Viện Đổi mới sáng tạo Quốc gia</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://nacentech.vn/toi-uu-hoa-dieu-kien-tach-chiet-saponin-steroid-tu-la-cay-costus-pictus-bang-phuong-phap-dap-ung-be-mat/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Động thái khử sắt trên đất phèn trồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long</title>
		<link>https://nacentech.vn/dong-thai-khu-sat-tren-dat-phen-trong-lua-o-dong-bang-song-cuu-long/</link>
					<comments>https://nacentech.vn/dong-thai-khu-sat-tren-dat-phen-trong-lua-o-dong-bang-song-cuu-long/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 27 Nov 2024 03:41:39 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[CÔNG NGHỆ SINH HỌC]]></category>
		<category><![CDATA[TIN CÔNG NGHỆ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://nacentech.vn/?p=7186</guid>

					<description><![CDATA[<p>Với đặc điểm tích lũy nhiều lưu huỳnh và oxit sắt, có tầng chẩn đoán sulphuric và pH&#60;3,5, độc sắt là một trong những yếu tố hạn chế năng suất quan trọng đối với lúa trên đất phèn ngập nước. Độc sắt và nhôm vẫn thường được xem là 2 yếu tố độc hạn chế</p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="https://nacentech.vn/dong-thai-khu-sat-tren-dat-phen-trong-lua-o-dong-bang-song-cuu-long/">Động thái khử sắt trên đất phèn trồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="https://nacentech.vn">Viện Đổi mới sáng tạo Quốc gia</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Với đặc điểm tích lũy nhiều lưu huỳnh và oxit sắt, có tầng chẩn đoán sulphuric và pH&lt;3,5, độc sắt là một trong những yếu tố hạn chế năng suất quan trọng đối với lúa trên đất phèn ngập nước. Độc sắt và nhôm vẫn thường được xem là 2 yếu tố độc hạn chế đối với cây trồng. Sự gia tăng pH do quá trình khử khi đất ngập nước có thể loại bỏ được độc nhôm nhưng lại gây nên hiện tượng độc sắt. Việc  giải phóng ồ ạt một lượng lớn ion Fe<sup>2+</sup> trong dung dịch đất có thể gây ảnh hưởng mạnh đến sự sinh trưởng của cây lúa. Trong điều kiện nồng độ Fe<sup>2+</sup> hòa tan cao, lúa rễ lúa có thể hút Fe<sup>2+</sup> quá mức nhu cầu của cây, sau đó được vận chuyển lên lá làm tăng cường sản sinh ra các gốc oxy hóa tự do gây độc, làm phá vỡ cấu trúc của tế bào, gây rối loạn quá trình trao đổi chất trong cây. Cây lúa bị ngộ độc sắt thường gây thiệt hại năng suất trung bình từ 13 &#8211; 30%, trong nhiều trường hợp năng suất lúa giảm 100%.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Tình trạng độc sắt trong đất phèn luôn luôn gắn với quá trình khử sắt và nồng độ Fe<sup>2+</sup> hòa tan. Các dạng sắt chủ yếu trong đất ngập nước gồm goethite (α- FeOOH), ferrihydrite (Fe2O3.nH2O), lepido-crocite (α-FeOOH), maghemite (β-Fe2O3). Quá trình khử sắt trong đất ngập nước phụ thuộc rất nhiều vào tính chất đất như điều kiện oxy hóa khử, nhiệt độ môi trường, pH, hàm lượng hữu cơ.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Độ nhạy cảm của cây lúa đối với độc sắt rất khác nhau tùy theo mức độ và thời điểm xuất hiện nồng độ Fe<sup>2+ </sup>cao trong dung dịch đất. Nồng độ sắt cao ở thời kỳ cây con có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất đến mức khó hồi phục. Nồng độ Fe<sup>2+</sup> cao tại thời kỳ đẻ nhánh làm đòng có thể làm giảm tỷ lệ số bông hữu hiệu và tăng tỷ lệ lép. Việc nghiên cứu hiểu rõ động thái khử sắt và xác định thời điểm bùng nổ khử sắt trong đất sẽ cho phép đánh giá được tình trạng độc sắt, lựa chọn các giải pháp và thời điểm áp dụng giải pháp canh tác, bố trí thời vụ để tránh tác hại của độc sắt một cách hiệu quả.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Kết quả nghiên cứu của Chi nhánh Viện Ứng dụng Công nghệ tại TP. HCM thực hiện cho thấy tốc độ tăng nồng độ Fe<sup>2+</sup> mạnh nhất ở trong giai đoạn 1 đến 7 ngày ngập nước và sau đó nồng độ Fe<sup>2+</sup> tuy vẫn tăng nhưng có tốc độ tăng giảm dần do xuất hiện quá trình tái kết tủa ferrosoferic hydroxite. Thời điểm đạt nồng độ Fe<sup>2+</sup> cực đại chủ yếu giao động trong giai đoạn 14- 42 ngày sau ngập nước. Đây được xem là luận chứng quan trọng trong việc xây dựng kỹ thuật ngập khô xen kẽ trong canh tác lúa để giảm tình trạng ngộ độc sắt trên cây lúa.</span></p>
<p style="text-align: right;"><em><strong><span style="color: #000000;">Nguồn: Chi nhánh Viện Ứng dụng công nghệ tại TP. HCM</span></strong></em></p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="https://nacentech.vn/dong-thai-khu-sat-tren-dat-phen-trong-lua-o-dong-bang-song-cuu-long/">Động thái khử sắt trên đất phèn trồng lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="https://nacentech.vn">Viện Đổi mới sáng tạo Quốc gia</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://nacentech.vn/dong-thai-khu-sat-tren-dat-phen-trong-lua-o-dong-bang-song-cuu-long/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Chi nhánh Viện Ứng dụng Công nghệ tại TP. HCM phân lập chủng nấm săn tuyến trùng hại cây có múi</title>
		<link>https://nacentech.vn/chi-nhanh-vien-ung-dung-cong-nghe-tai-tp-hcm-phan-lap-chung-nam-san-tuyen-trung-hai-cay-co-mui/</link>
					<comments>https://nacentech.vn/chi-nhanh-vien-ung-dung-cong-nghe-tai-tp-hcm-phan-lap-chung-nam-san-tuyen-trung-hai-cay-co-mui/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 27 Nov 2024 03:41:29 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[CÔNG NGHỆ SINH HỌC]]></category>
		<category><![CDATA[TIN CÔNG NGHỆ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://nacentech.vn/?p=7188</guid>

					<description><![CDATA[<p>Cây có múi là một trong những loài cây trồng trọng điểm của Việt Nam, tuy nhiên hiện nay bệnh vàng lá thối rễ đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức sống và năng suất của cây có múi (Trinh et al., 2016). Tuyến trùng Tylenchulus semipenetrans được xác định là một trong những loài</p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="https://nacentech.vn/chi-nhanh-vien-ung-dung-cong-nghe-tai-tp-hcm-phan-lap-chung-nam-san-tuyen-trung-hai-cay-co-mui/">Chi nhánh Viện Ứng dụng Công nghệ tại TP. HCM phân lập chủng nấm săn tuyến trùng hại cây có múi</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="https://nacentech.vn">Viện Đổi mới sáng tạo Quốc gia</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Cây có múi là một trong những loài cây trồng trọng điểm của Việt Nam, tuy nhiên hiện nay bệnh vàng lá thối rễ đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức sống và năng suất của cây có múi (Trinh et al., 2016)<em>. </em>Tuyến trùng <em>Tylenchulus semipenetrans </em>được xác định là một trong những loài gây hại chính trên cây có múi, chúng kí sinh trên rễ cây và là nhân tố chính gây bệnh chết chậm, gây thiệt hại năng suất hàng năm từ 30-50% (Suganthi et al., 2019)<em>. </em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Nấm săn tuyến trùng (Nematophagous fungi) có trên 200 loài, là chủng nấm có khả năng bắt hoặc kí sinh trên tuyến trùng và sử dụng tuyến trùng làm nguồn dinh dưỡng (Hsueha et al., 2013; Nordbring-Hertz, 2006). Chúng được phân thành 4 nhóm theo phương thức tấn công tuyến trùng: nấm bẫy tuyến trùng sử dụng keo dính hoặc bẫy cơ học, nấm nội kí sinh sử dụng bào tử, nấm kí sinh trứng hoặc con cái bằng đầu sợi nấm và sinh độc tố nấm cố định tuyến trùng trước khi xâm nhập (Liu et al, 2009). Nấm bẫy tuyến trùng có 3 chi chính là <em>Arthrobotrys, Dactylellina</em> và <em>Drechslerella </em>(Nguyen et al., 2019). Trong đó, chi <em>Arthrobotrys</em> đặc biệt là <em>A. oligospora</em> được báo cáo là chi nấm phân bố rộng rãi có thể được tìm thấy ở châu Âu, châu Á, châu Mĩ và có khả năng phát triển trong nhiều môi trường bao gồm các loại đất tự nhiên, phân động vật và trong môi trường nước (Niu &amp; Zhang, 2011).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Chi nhánh Viện Ứng dụng Công nghệ tại TP. HCM đã phân lập được một chủng <em>Arthrobotrys</em> sp., hai chủng <em>Paecilomyces</em> sp., và mười bốn chủng <em>Trichoderma </em>sp. Kết quả nghiên cứu cho thấy các chủng nấm săn tuyến trùng có khả năng kiểm soát tuyến trùng <em>T. semipenetrans</em> trên cây có múi đạt hiệu quả cao. <em>Arthrobotrys </em>sp., có khả năng tạo bẫy mạng bắt tuyến trùng đạt 72,82% sau 15 ngày thử nghiệm, <em>Paecilomyces</em> sp., có khả năng kí sinh và phá vỡ trứng từ bên trong, đạt hiệu quả cao nhất là 90,87%. Các chủng <em>Trichoderma</em> sp., có khả  năng ức chế và làm mất cấu trúc vỏ trứng <em>T. semipenetrans</em> đạt hiệu quả là 80,33%.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Chi nhánh Viện Ứng dụng Công nghệ tại TP. HCM đã sản xuất và phân phối sản phẩm sinh học chứa các chủng nấm săn tuyến trùng để phục vụ sản xuất nông nghiệp ở các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long. Thông tin hợp tác nghiên cứu, sản xuất, chuyển giao công nghệ vui lòng liên hệ tại địa chỉ: 366A Trường Chinh, Phường 13, Quận Tân Bình, TP. HCM.</span></p>
<p style="text-align: right;"><span style="color: #000000;"><em><strong>Nguồn: Chi nhánh Viện Ứng dụng công nghệ tại TP. HCM</strong></em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"><strong>TÀI LIỆU THAM KHẢO</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Nguyen, V. H, Nguyen, T. H, Tran, T. T. T, &amp; Pham, V. T. (2019). Isolation and selection of Arthrobotrys nematophagous fungi to control the nematodes on coffee and black pepper plants in Vietnam. <em>Archives of Phytopathology and Plant Protection</em>, <em>52</em>(7-8), 825-843.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Hsueha, Y.-P., Mahantib, P., Schroederb, F. C., &amp; Sternberg, P. W. (2013). Nematode-trapping fungi eavesdrop on nematode pheromones. <em>Curr Biol</em>, <em>23</em>(1), 83-86.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Liu, X., Xiang, M., &amp; Che, Y. (2009). The living strategy of nematophagous fungi. <em>Mycoscience</em>, <em>50</em>, 20-25.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Niu, X.-M., &amp; Zhang, K.-Q. (2011). <em>Arthrobotrys oligospora</em> a model organism for understanding the interaction between fungi and nematodes.pdf. <em>Mycology</em>, <em>2</em>(2), 59-78.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Nordbring-Hertz, B., Jansson, H. B., &amp; Tunlid, A. (2006). Nematophagous Fungi. In <em>Encyclopedia of life sciences</em> (pp. 1-11). John Wiley &amp; Sons.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Trinh, Q. P, Nguyen, T. T., Tran, T. T. T., Nguyen, H. T, &amp; Tran, T. H. A. (2016). Đặc điểm phân bố của tuyến trùng ký sinh thực vật trong đất trồng cam Cao  Phong, Hòa Bình. <em>VNU Journal of Science: Earth and Environmental Sciences</em>, <em>32</em>, 301-308.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Suganthi, K., Vetrivelkalai, P., Poornima, K., &amp; Vijayakumar, R. M. (2019). In vitro Bioefficacy of Endophytic Isolates against Citrus Nematode. <em>Tylenchulus semipenetrans</em>. <em>Int.J.Curr.Microbiol.App.Sci</em>, <em>8</em>(5), 1050-1055.</span></p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="https://nacentech.vn/chi-nhanh-vien-ung-dung-cong-nghe-tai-tp-hcm-phan-lap-chung-nam-san-tuyen-trung-hai-cay-co-mui/">Chi nhánh Viện Ứng dụng Công nghệ tại TP. HCM phân lập chủng nấm săn tuyến trùng hại cây có múi</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="https://nacentech.vn">Viện Đổi mới sáng tạo Quốc gia</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://nacentech.vn/chi-nhanh-vien-ung-dung-cong-nghe-tai-tp-hcm-phan-lap-chung-nam-san-tuyen-trung-hai-cay-co-mui/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Khả năng đối kháng của vi khuẩn Bacillus sp với vi nấm Neoscytalidium dimidiatum gây bệnh đốm trắng trên cây thanh long</title>
		<link>https://nacentech.vn/kha-nang-doi-khang-cua-vi-khuan-bacillus-sp-voi-vi-nam-neoscytalidium-dimidiatum-gay-benh-dom-trang-tren-cay-thanh-long/</link>
					<comments>https://nacentech.vn/kha-nang-doi-khang-cua-vi-khuan-bacillus-sp-voi-vi-nam-neoscytalidium-dimidiatum-gay-benh-dom-trang-tren-cay-thanh-long/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 27 Nov 2024 03:41:20 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[CÔNG NGHỆ SINH HỌC]]></category>
		<category><![CDATA[TIN CÔNG NGHỆ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://nacentech.vn/?p=7196</guid>

					<description><![CDATA[<p>Với ưu thế về điều kiện đất đai khí hậu và kinh nghiệm canh tác, thanh long đang là một  cây trồng chiếm  một  vị  trí  quan trọng trong  ngành trồng cây ăn quả theo  hướng xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên hiện nay, tình hình dịch bệnh trên thanh  long  diễn  ra nghiêm</p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="https://nacentech.vn/kha-nang-doi-khang-cua-vi-khuan-bacillus-sp-voi-vi-nam-neoscytalidium-dimidiatum-gay-benh-dom-trang-tren-cay-thanh-long/">Khả năng đối kháng của vi khuẩn Bacillus sp với vi nấm Neoscytalidium dimidiatum gây bệnh đốm trắng trên cây thanh long</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="https://nacentech.vn">Viện Đổi mới sáng tạo Quốc gia</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Với ưu thế về điều kiện đất đai khí hậu và kinh nghiệm canh tác, thanh long đang là một  cây trồng chiếm  một  vị  trí  quan trọng trong  ngành trồng cây ăn quả theo  hướng xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên hiện nay, tình hình dịch bệnh trên thanh  long  diễn  ra nghiêm trọng, trong đó đáng chú ý là bệnh đốm trắng. Theo ghi nhận của Viện Cây ăn quả miền Nam thì bệnh đốm trắng xuất hiện rải rác vào năm 2008  ở  Bình Thuận  và  Tiền  Giang và từ năm 2011 đến nay bệnh tấn công mạnh và lây lan nhanh hơn. Mức độ bệnh ở  các vườn, địa phương khác nhau, có những vườn bị nhiễm quả không thể thu hoạch được, thiệt hại rất lớn cho nhà vườn.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Bệnh đốm trắng hay còn được gọi dưới các tên “đốm nâu”, “đốm tắc kè”, “bệnh ma”, “bệnh loét” hay “thối mục”, là một trong những bệnh gây thiệt hại lớn về năng suất và chất lượng thanh long. Nguyên nhân của bệnh được xác định là do vi nấm <em>Neoscytalydium dimidiatum</em><em>. </em>Cho đến nay, vẫn chưa có thuốc đặc trị bệnh này, việc sử dụng các hóa chất để hạn chế bệnh hiện nay chỉ là giải pháp tình thế và  là  một trong những nguồn  góp phần gây ô nhiễm, giảm chất lượng thanh long, hạn chế khả năng xuất khẩu thanh long  ra các thị trường khó tính.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Nhiều   nghiên  cứu   trong  và   ngoài  nước  cho   thấy,  việc  sử   dụng  vi  khuẩn  như <em>Bacillus </em>sp. để ức chế một số loài nấm bệnh trên cây trồng đã cho thấy tính hiệu quả của nó, điều này cũng cho thấy dòng <em>Bacillus </em>sp. có tiềm năng trong việc ức chế nấm bệnh <em>N. dimidiatum </em>trên thanh long.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Chi nhánh Viện Ứng dụng Công nghệ tại TP. HCM đã phân lập và sàng lọc được 136 chủng vi khuẩn <em>Bacillus </em>từ  các  mẫu đất lấy tại Bình Thuận. Trong đó 104 chủng có khả năng đối kháng với <em>N. dimidiatum </em>trên 2 phương pháp thử nghiệm. Chủng ĐV5B6 cho kết quả đối kháng tốt nhất với hiệu suất đối kháng là 36,67% và đường kính vòng vô khuẩn là 21,33 mm<em>. </em>Kết quả định danh bằng phương pháp MALDI – TOF cho thấy cho thấy chủng ĐV5B6 là <em>Bacillus atrophaeus</em>, điều này mở ra cơ hội lớn trong việc sản xuất chế phẩm sinh học từ Bacillus để phòng trừ bệnh đốm trắng do nấm <em>Neoscytalydium dimidiatum</em> gây ra trên cây thanh long.</span></p>
<p style="text-align: right;"><em><strong><span style="color: #000000;">Nguồn:  Chi nhánh Viện Ứng dụng công nghệ tại TP. HCM</span></strong></em></p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="https://nacentech.vn/kha-nang-doi-khang-cua-vi-khuan-bacillus-sp-voi-vi-nam-neoscytalidium-dimidiatum-gay-benh-dom-trang-tren-cay-thanh-long/">Khả năng đối kháng của vi khuẩn Bacillus sp với vi nấm Neoscytalidium dimidiatum gây bệnh đốm trắng trên cây thanh long</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="https://nacentech.vn">Viện Đổi mới sáng tạo Quốc gia</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://nacentech.vn/kha-nang-doi-khang-cua-vi-khuan-bacillus-sp-voi-vi-nam-neoscytalidium-dimidiatum-gay-benh-dom-trang-tren-cay-thanh-long/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Tối ưu hoá điều kiện tách chiết Saponin Triterpenoid từ bả hạt cây sở (Camellia oleifera) bằng phương pháp đáp ứng bề mặt RSM</title>
		<link>https://nacentech.vn/toi-uu-hoa-dieu-kien-tach-chiet-saponin-triterpenoid-tu-ba-hat-cay-so-camellia-oleifera-bang-phuong-phap-dap-ung-be-mat-rsm/</link>
					<comments>https://nacentech.vn/toi-uu-hoa-dieu-kien-tach-chiet-saponin-triterpenoid-tu-ba-hat-cay-so-camellia-oleifera-bang-phuong-phap-dap-ung-be-mat-rsm/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 27 Nov 2024 03:40:46 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[CÔNG NGHỆ SINH HỌC]]></category>
		<category><![CDATA[TIN CÔNG NGHỆ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://nacentech.vn/?p=7200</guid>

					<description><![CDATA[<p>Cây Sở (Camellia oleifera) là loài cây thuộc họ trà được trồng chủ yếu tại Trung Quốc, Việt Nam. Từ hạt cây Sở qua ép người ta thu được dầu, loại dầu này được sử dụng chủ yếu dùng sản xuất dầu thực phẩm. Bã khô sau ép một phần người dân dùng làm chất</p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="https://nacentech.vn/toi-uu-hoa-dieu-kien-tach-chiet-saponin-triterpenoid-tu-ba-hat-cay-so-camellia-oleifera-bang-phuong-phap-dap-ung-be-mat-rsm/">Tối ưu hoá điều kiện tách chiết Saponin Triterpenoid từ bả hạt cây sở (Camellia oleifera) bằng phương pháp đáp ứng bề mặt RSM</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="https://nacentech.vn">Viện Đổi mới sáng tạo Quốc gia</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Cây Sở (<em>Camellia oleifera</em>) là loài cây thuộc họ trà được trồng chủ yếu tại Trung Quốc, Việt Nam. Từ hạt cây Sở qua ép người ta thu được dầu, loại dầu này được sử dụng chủ yếu dùng sản xuất dầu thực phẩm. Bã khô sau ép một phần người dân dùng làm chất xử lý hồ ao do có tác dụng diệt cá tạp, ốc bươu vàng trong ruộng lúa, tuyến trùng và sâu hại trong đất, còn lại hầu như là bỏ đi, không được chú ý đến. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng bã hạt cây Sở khô sau khi ép có chứa một lượng khá dồi dào hợp chất có tên khoa học là saponin. Hạt cây Sở có chứa nhiều các hợp chất thuộc nhóm saponin như triterpenoid có tác dụng kháng nấm, kháng khuẩn, tiêu diệt côn trùng. Saponin triterpenoid là một nhóm các saponin có phần aglycol là các triterpenoid. Các saponin triterpenoid có đầy đủ tính chất đặc trưng của saponin như khả năng tạo bọt, khả năng tan trong nước, methanol, ethanol loãng. Ngoài ra, khi tác dụng với acid vô cơ mạnh (perchloric acid, sulfuric acid) và thuốc thử vanillin, hơ nóng sẽ cho màu tím hoa cà. Đây là phản ứng để phân biệt saponin triterpenoid với saponin steroid.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Công nghệ chiết xuất chú trọng đến các yếu tố như hiệu suất chiết, điều kiện chiết hay quy trình (an toàn và kinh tế), khả năng triển khai ở quy mô sản xuất. Để nâng cao hiệu quả của dịch chiết, các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chiết xuất thường được tối ưu hóa. Thông thường, các nghiên cứu dùng phương pháp cổ điển là luân phiên từng biến để thay đổi các thông số khảo sát trong quá trình tối ưu hóa. Tuy nhiên, phương pháp này không thể hiện rõ ràng sự tương tác hay ảnh hưởng giữa các biến với nhau và tổng số thí nghiệm thực hiện tăng lên nhiều khi số lượng biến khảo sát tăng. Do đó, hiện nay trong nghiên cứu, thường sử dụng phương pháp đáp ứng bề mặt (Response Surface Methodology &#8211; RSM) để tối ưu hóa các thông số trong quá trình chiết. Phương pháp này được phát triển dựa trên các kỹ thuật toán học và thống kê, dựa trên sự phù hợp và liên quan giữa kết quả thu được từ mô hình thực nghiệm và thiết kế thí nghiệm. Phương pháp RSM đã được ứng dụng trong tối ưu hóa điều kiện chiết xuất hoạt chất tự nhiên, tổng hợp hóa học hay tối ưu hóa các quá trình hóa học khác.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;">Kết quả nghiên cứu của Chi nhánh Viện Ứng dụng công nghệ tại TP. HCM chỉ ra rằng các điều kiện của quá trình trích ly saponin triterpenoid từ bột bã hạt Sở với tỷ lệ dung môi: nguyên liệu, nồng độ ethanol và thời gian có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả chiết xuất. Hàm lượng saponin triterpenoid thu được cao nhất đạt 5,451% khi tỷ lệ dung môi: nguyên liệu là 19:1 (v/w); nồng độ ethanol 80% và thời gian trích ly 77 giờ. Công cụ thiết kế thí nghiệm tối ưu đa yếu tố của Plackett-Burman và phương pháp đáp ứng bề mặt &#8211; phương án cấu trúc có tâm (RSM-CCD) theo đánh giá là những công cụ mạnh trong việc sàng lọc và tối ưu hóa giá trị các yếu tố làm cho hàm đáp ứng cực đại.</span></p>
<p style="text-align: right;"><em><span style="color: #000000;"><strong>Nguồn: Chi nhánh Viện Ứng dụng công nghệ tại TP. HCM</strong></span></em></p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="https://nacentech.vn/toi-uu-hoa-dieu-kien-tach-chiet-saponin-triterpenoid-tu-ba-hat-cay-so-camellia-oleifera-bang-phuong-phap-dap-ung-be-mat-rsm/">Tối ưu hoá điều kiện tách chiết Saponin Triterpenoid từ bả hạt cây sở (Camellia oleifera) bằng phương pháp đáp ứng bề mặt RSM</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="https://nacentech.vn">Viện Đổi mới sáng tạo Quốc gia</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://nacentech.vn/toi-uu-hoa-dieu-kien-tach-chiet-saponin-triterpenoid-tu-ba-hat-cay-so-camellia-oleifera-bang-phuong-phap-dap-ung-be-mat-rsm/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/

Page Caching using disk: enhanced 
Lazy Loading

Served from: nacentech.vn @ 2026-08-25 08:10:48 by W3 Total Cache
-->